HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI KHU RAMSAR THỨ 7 CỦA VIỆT NAM – KHU BẢO TỒN ĐẤT NGẬP NƯỚC LÁNG SEN

                                                                        TS. Nguyễn Trần Vỹ

Các hệ sinh thái đất ngập nước đóng vai trò quan trọng đối với sự ổn định của môi trường thiên nhiên cũng như sự cân bằng đối với cuộc sống của con người. Đất ngập nước là một trong những hệ sinh thái có giá trị cao nhất (Mitsch & Gosselink 2015), cung cấp nhiều dịch vụ sinh thái cho môi trường như điều tiết nước, cung cấp nước, lọc chất thải độc hại cho môi trường, tích trữ nước ngọt (Kadykalo & Findlay 2016). Đất ngập nước là nơi cư trú và sinh sản của nhiều loài sinh vật, đặt biệt là các loài chim nước. Hiện nay, dưới tác động của con người trong quá trình đô thị hóa, diện tích của các hệ sinh thái đất ngập nước, trong đó có hệ sinh thái đất ngập nước ngọt đã và đang bị thu hẹp ở mức đáng báo động. Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những đồng bằng châu thổ lớn nhất Việt Nam với tổng diện tích vào khoảng hơn 4 triệu ha và hiện nay, diện tích đất ngập nước tự nhiên trong vùng chỉ còn khoảng 0.068 triệu ha do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó quan trọng nhất là bom đạn trong chiến tranh, chuyển đổi các vùng đất ngập nước thành đất nông nghiệp và khu dân cư (Nguyen et al., 2016, Tú et al., 2024). Các diện tích đất ngập nước tự nhiên đại diện cho các hệ sinh thái đặc trưng cho Đồng bằng sông Cửu Long còn sót lại hiện nay chủ yếu tập trung ở các Vườn Quốc gia (VQG) như Tràm Chim, Mũi Cà Mau, U Minh Thượng, U Minh Hạ, và khu bảo tồn thiên nhiên như Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, Khu bảo tồn sinh thái Đồng Tháp Mười (Tiền Giang),…. Từ vai trò quan trọng này, có 4 khu Ramsar ở Đồng bằng sông Cửu Long đã được công nhận đó là VQG Mũi Cà Mau, VQG Tràm Chim, VQG U Minh Thượng và Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen (Khu BTĐNN Láng Sen).

Khu BTĐNN Láng Sen được xem là một trong những hệ sinh thái tự nhiên tiêu biểu của Đồng Tháp Mười trước đây vì vị trí của khu bảo tồn gần như thuộc vùng trung tâm và trũng nội địa của vùng Đồng Tháp Mười, thuộc hạ lưu châu thổ sông Mekong. Khu BTĐNN Láng Sen có toạ độ từ 10o45' đến 11o50' Vĩ độ Bắc. Từ 105o45' đến 105o50 ' Kinh độ Đông và cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 150 km về phía Nam. Diện tích Khu bảo tồn là 5.030 ha thuôc tỉnh Tây Ninh (Long An cũ).  Độ cao địa hình ở đây dao động từ 0,7 đến 1,2 m so với mực nước biển (Lê Phát Quới et al., 2017). Khu BTĐNN Láng Sen có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa trong năm là mùa khô (tháng 11 đến tháng 4 năm sau) và mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10). Dữ liệu thời tiết ghi nhận ở khu vực Mộc Hóa cho thấy lượng mưa trung bình năm là 1.430 mm/ năm. Nhiệt độ nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 27,3oC, nhiệt độ tháng nóng nhất (tháng 4) là 28,7oC và nhiệt độ tháng thấp nhất (tháng 1) là 25,5oC (Tran et al., 2019). Khu BTĐNN Láng Sen có phần lớn địa hình thấp hơn 1m so với mực nước biển, chiếm khoảng 93% diện tích của khu bảo tồn. Với độ cao địa hình như vậy, KBT đất ngập nước Láng Sen có thể chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ thủy văn của sông Cửu Long và chịu ngập lũ hàng năm.

Chế độ thủy văn của khu BTĐNN Láng Sen chịu ảnh hưởng trực tiếp của sông Cửu Long nhưng lưu lượng nước lưu thông không nhiều do lưu vực nhỏ. Nhìn chung, sự trao đổi nước giữa nội đồng bên trong Láng Sen với bên ngoài không nhiều, mực nước bên trong Láng Sen có tăng lên một ít vào mùa mưa do nguồn nước mưa tại chỗ và tăng dần đến cuối mùa lũ (khi có nước lũ lớn). Nhìn chung hầu như không có sự khác nhau về mực nước giữa 2 mùa ở khu bảo tồn. Do mạng lưới kênh mương được mở rộng và phát triển nhiều nên thời gian ngập ở đây thường kéo dài từ 3 - 4 tháng (khoảng từ tháng 9 đến tháng 12) và ngắn hơn khoảng 1 tháng so với trước đây (Anonymous 2010, Lê Phát Quới et al. 2017).

Hệ thực vật

Các giá trị đa dạng sinh học của Láng Sen đã được tổng hợp và cập nhật trong một báo cáo quy hoạch khu BTĐNN Láng Sen (Lê Phát Quới et al. 2017). Theo báo cáo này khu BTĐNN Láng Sen, có 152 loài thực vật thuộc 60 họ đã được ghi nhận trong đó có 7 loài thuộc nhóm khuyết thực vật, 88 loài Song tử diệp và 57 loài đơn tử diệp. Theo tài liệu công bố gần đây nhất, thảm thực vật của khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen có 4 kiểu sinh cảnh chính đó là: 1) Sinh cảnh rừng tràm, 2) Sinh cảnh lung trấp với 3 kiểu quần hợp, 3) Sinh cảnh đồng cỏ gập nước theo mùa với 6 kiểu quần hợp và 4) và sinh cảnh thực vật trên kênh rạch với 8 kiểu quần hợp (Đặng Văn Sơn et al., 2019). Các kiểu sinh cảnh này được hình thành từ sự kết hợp của những quần hợp thực vật chiếm ưu thế với các quần hợp thực vật khác. Tùy theo độ phong phú của từng quần hợp thực vật, mức độ ngập của nước và diện tích của các khoảng nước trống xen kẽ với các quần hợp thực vật đó đã tạo ra những nét đặc trưng cho từng kiểu sinh cảnh.

Hình 1: Các kiểu thảm thực vật đặc trưng ở khu BTĐNN Láng Sen

Hệ động vật

Động vật phân bố tại khu BTĐNN Láng Sen đã thống kê được 150 loài, trong đó lớp Lưỡng cư có 4 loài, lớp Bò sát 17 loài, lớp Chim 127 loài và lớp Thú có 7 loài. Trong số 150 loài động vật này có 15 loài thuộc nhóm quý hiếm trong sách đỏ của IUCN. Khu hệ cá ở đây cũng được đánh giá rất phong phú và khá đặc trưng cho các thủy vực ở miền Nam với 36 loài thuộc 14 họ. Ngoài ra, khu BTĐNN Láng Sen có sự đa dạng cao về nhóm động thực vật phiêu sinh với tổng số loài là 152 (Lê Phát Quới et al. 2017). Kết quả nghiên cứu về khu hệ chim gần đây đã cập nhật danh lục và đặc điểm phân bố của các loài chim tại Láng Sen. Theo kết quả nghiên cứu này, số loài chim ghi nhận tại Láng Sen là 101 loài tromg đó có 22 loài ghi nhận mới so với danh lục các loài chim đã ghi nhận trước năm 2020 (Nguyễn Trần Vỹ et al., 2024). Kết hợp kết quả nghiên cứu mới này với những ghi nhận trước năm 2020 (Lê Phát Quới et al. 2017), số loài chim đã ghi nhận tại Láng Sen là 160 loài chim thuộc 53 họ và 16 bộ; trong đó có 12 loài nằm trong danh lục IUCN 2020 (1 CR, 3 VU và 8 NT); 12 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (3 EN và 9 VU).

Về tổng thể, mặc dù khu BTĐNN Láng Sen có diện tích khá nhỏ so với các khu bảo tồn đất ngập nước nước ngọt khác tại Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng giá trị đa dạng sinh học ở đây khá cao và đặc trưng cho hệ sinh thái đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười. Tương tự như các khu bảo tồn khác, khu BTĐNN Láng Sen cũng đang chịu nhiều áp lực từ các mối đe dọa khác nhau đặc biệt là săn bắt trái phép. Một số loài chim có giá trị bảo tồn cao còn số lượng rất ít hay không còn diện ở đây do môi trường sống bị thay đổi không còn phù hợp với đời sống của chúng. Vì vậy, việc đầu tư nghiên cứu cũng như xây dựng các kế hoạch quản lý và bảo tồn nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho khu BTĐNN Láng Sen trog thời gian tới là rất quan trọng. Điều này không chỉ góp phần gìn giữ những giá trị đa dạng sinh học cho riêng Láng Sen, cho Đồng bằng sông Cửu Long mà cho những giá trị bảo tồn của Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

  1. Anonymous. 2010. Đánh giá tổng hợp tài nguyên tự nhiên Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen. Viện Nước và Công Nghệ Môi Trường Tp. HCM, TP. Hồ Chí Minh.
  2. Đặng Văn Sơn, Nguyễn Linh Em, Lê Pha, Phạm Văn Ngọt, Nguyễn Thị Mai Hương, and Hoàng Nghĩa Sơn. 2019. Đa dạng hệ thực vật Khu Bảo tồn đất ngập nước Láng Sen. Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.
  3. Kadykalo, A. N., and C. S. Findlay. 2016. The flow regulation services of wetlands. Ecosystem Services 20:91-103.
  4. Lê Phát Quới, Võ Tấn Quốc, Huỳnh Tấn Kiệt, and Kevin Marks. 2017. Quy hoạch Khu Bảo tồn đất ngập nước Láng Sen. Trung tâm Khoa học Môi trường và Sinh thái Tp. HCM, Long An.
  5. Mitsch, W. J., and J. G. Gosselink. 2015. Wetlands. John Wiley & Sons.
  6. Nguyen, H. H., P. Dargusch, and P. Moss. 2016. A review of the drivers of 200 years of wetland degradation in the Mekong Delta of Vietnam. Regional environmental change 16:2303-2315.
  7. Nguyễn Trần Vỹ, Nguyễn Thanh Lâm, Nguyễn Thị Minh Châu, Nguyễn Văn Tân, Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Thị Phương Thảo, and Hoàng Nghĩa Sơn. 2024. Đa dạng khu hệ chim khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen.
  8. Tran, T., T. Nguyen, T. Le Xuan, and T. Tran. 2019. Climate Change Vulnerability Assessment Lang Sen Wetland Reserve. by: IUCN Asia Regional Office (ARO), Bangkok, Thailand.
  9. Tú, N. Đ., P. T. Thủy, and T. T. K. Hồng. 2024. Thực trạng đa dạng sinh học tại Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam.

Hình ảnh:

Sinh cảnh rừng tràm

Sinh cảnh lung trấp

Sinh cảnh đất ngập nước theo mùa

Các loài chim tại Láng Sen

Trích

Photo: Nguyễn Trần Vỹ

Cà Kheo

Photo: Nguyễn Trần Vỹ

Cò Ốc

Photo: Nguyễn Trần Vỹ

Gà lôi nước Ấn Độ

Photo: Nguyễn Trần Vỹ